Thứ hai, Ngày 26/02/2024 -

UBND tỉnh báo cáo tình hình kinh tế - xã hội tại Kỳ họp thứ 6, HĐND tỉnh khóa XII
Ngày đăng: 06/12/2023  10:15
Mặc định Cỡ chữ
Sáng ngày 06/12, tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 6 HĐND tỉnh khóa XII, thay mặt UBND tỉnh, đồng chí Y Ngọc - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh đã trình bày tóm tắt tình hình kinh tế - xã hội năm 2023 và phương hướng, nhiệm vụ năm 2024; các nội dung trình tại kỳ họp. Cổng TTĐT tỉnh lược đăng các nội dung báo cáo trên.

 

Đồng chí Y Ngọc - Ủy viên Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch UBND tỉnh trình bày báo cáo tại kỳ họp

 

Tại kỳ họp thứ 6 HĐND tỉnh khóa XII lần này, UBND tỉnh trình HĐND tỉnh tổng cộng 42 nội dung trong đó, bao gồm 21 báo cáo, 01 Kế hoạch và 20 Tờ trình và dự thảo Nghị quyết của HĐND tỉnh. UBND tỉnh báo cáo tóm tắt các nội dung trình tại Kỳ họp, cụ thể:

 

Tình hình kinh tế - xã hội năm 2023

 

Tổng sản phẩm xã hội trên địa bàn (GRDP) năm 2023 (giá so sánh năm 2010) ước khoảng 18.939 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng đạt 7,32%, đứng thứ 22 cả nước và thứ nhất Khu vực Tây Nguyên. Thu nhập bình quân đầu người 58,42 triệu đồng, đạt 102,49% kế hoạch. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội ước khoảng 27.035 tỷ đồng, đạt 100,13% kế hoạch và tăng 15,51% so với cùng kỳ. Thu ngân sách Nhà nước ước 4.200 tỷ đồng, đạt 93,3% dự toán tỉnh giao. Tỷ lệ giải ngân ước cả năm đạt 95%. Đã chấp thuận chủ trương đầu tư cho 13 dự án đầu tư với tổng vốn đăng ký hơn 2.011 tỷ đồng. Dự kiến năm 2023 có thêm 06 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 100% kế hoạch. Tổng giá trị tăng thêm của ngành nông nghiệp khoảng 6.623,27 tỷ đồng, đạt 101,9% kế hoạch và bằng 111,9% so với cùng kỳ. Đã trồng mới hơn 4.929 ha rừng, đạt 123,2% kế hoạch. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 16% so với cùng kỳ. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ khoảng 34.184 tỷ đồng, đạt 108,59% kế hoạch, tăng 17,27% so với cùng kỳ. Đã giải quyết việc làm cho 7.053 lao động, đạt 117,55% kế hoạch. Toàn tỉnh có 190 trường trường đạt chuẩn quốc gia. Tỷ lệ tốt nghiệp Kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông năm 2023 của tỉnh đạt 98,78%, xếp thứ 38/63 tỉnh, thành phố, xếp vị trí thứ 2 khu vực Tây Nguyên (sau tỉnh Lâm Đồng). Tỷ lệ hộ nghèo giảm 4% so với năm 2022. Đã cấp 60.321 thẻ BHYT cho hộ nghèo, cận nghèo; tỷ lệ bao phủ BHYT khoảng 93,35%, đạt 100% kế hoạch. Quốc phòng, an ninh được giữ vững ổn định. Công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, tệ nạn xã hội được thực hiện quyết liệt. Công tác tiếp công dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo được thực hiện đúng quy định. Hoạt động đối ngoại được tăng cường, mở rộng.

 

Bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, vẫn còn tồn tại một số hạn chế, khuyết điểm: Tốc độ tăng trưởng GRDP, thu ngân sách nhà nước không đạt kế hoạch; tiến độ giải ngân vốn đầu tư công còn chậm. Công tác đấu giá, khai thác quỹ đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng còn nhiều khó khăn. Việc ban hành giá đất cụ thể còn chậm; quản lý nhà nước về đất đai có mặt còn hạn chế. Nông nghiệp chưa phát huy được yếu tố lợi thế và gắn với công nghiệp chế biến, thị trường tiêu thụ; chưa hình thành nhiều các vùng sản xuất tập trung đối với một số loại cây ăn quả, dược liệu để tạo vùng nguyên liệu lớn. Một số cơ sở giáo dục chưa đồng bộ, tình trạng thiếu giáo viên dạy học các cấp vẫn còn xảy ra. Công tác chuyển đổi số còn chậm; việc ứng dụng chuyển đổi số vào sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh còn hạn chế. Tình trạng xây dựng công trình trái phép một số nơi vẫn còn diễn ra; quản lý nhà nước về môi trường có mặt còn hạn chế. Tai nạn giao thông tăng cả ba tiêu chí.

 

Nguyên nhân là do: Ảnh hưởng tiêu cực từ thị trường bất động sản nên các dự án sử dụng từ nguồn thu tiền sử dụng đất chậm triển khai. Quy trình, thủ tục chuyển đổi mục đích sử dụng rừng sang mục đích khác còn phức tạp ảnh hưởng đến tiến độ thực hiện các dự án. Tình hình thiên tai không thuận lợi; giá cả một số mặt hàng vật tư nông nghiệp và chi phí đầu vào tại một số thời điểm tăng cao, gây ảnh hưởng cho việc đầu tư thâm canh sản xuất trồng trọt. Các dự án trọng điểm có quy mô thu hồi đất lớn, đối tượng phải thu hồi đất nhiều, tính chất phức tạp; đơn giá bồi thường, giải phóng mặt bằng còn bất cập, chưa tạo được sự đồng thuận của người dân vùng bị ảnh hưởng. Một số sở, ban ngành, địa phương chưa thật sự chủ động, quyết liệt, sâu sát trong việc triển khai thực hiện nhiệm vụ được giao; vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu các đơn vị chưa được phát huy. Các dự án khai thác quỹ đất, xử lý, sắp xếp các cơ sở nhà đất hiện đang triển khai các bước lập hồ sơ, thủ tục, do đó chưa phát sinh nguồn thu; bên cạnh đó, việc thực hiện cơ chế, chính sách miễn, giảm thuế của Quốc hội, Chính phủ đã ảnh hưởng đến số thu nộp ngân sách năm 2023. Công tác nghiệm thu, thanh toán khối lượng hoàn thành còn chậm; năng lực, kinh nghiệm của một số đơn vị tư vấn thiết kế, tư vấn giám sát, nhà thầu thi công và chủ đầu tư có mặt còn hạn chế. Ý thức chấp hành pháp luật về quy hoạch, đất đai, xây dựng, an toàn giao thông, giữ gìn trật tự trị an... của một bộ phận người dân còn hạn chế,…

 

Các chỉ tiêu năm 2024

 

Về kinh tế: Tốc độ tăng trưởng GRDP của tỉnh đạt từ 10% trở lên; GRDP bình quân đầu người trên 63,7 triệu đồng; Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn từ 4.600 tỷ đồng trở lên. Cơ cấu kinh tế: Khu vực Nông, Lâm nghiệp và Thủy sản: 18-19%; Khu vực Công nghiệp và Xây dựng: 32-33%; Khu vực Dịch vụ: 41-42%. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội từ 30.000 tỷ đồng trở lên. Thành lập mới từ 360 doanh nghiệp trở lên. Trồng mới ít nhất: 488 ha cây ăn quả; 200 ha cây Mắc ca; 500 ha Sâm Ngọc Linh; 1.560 ha cây dược liệu khác. Tổng đàn bò 90.300 con; tổng đàn trâu 24.400 con. Trồng mới trên 2.850 ha rừng; tỷ lệ che phủ rừng (có tính cây cao su) đạt 63,85%. Phấn đấu có thêm 05 xã đạt chuẩn nông thôn mới. Phấn đấu có 1,7 triệu lượt khách du lịch đến tỉnh. Duy trì Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); phấn đấu Chỉ số Hiệu quả quản trị và Hành chính công cấp tỉnh (PAPI), Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) tăng 05 bậc so với năm 2023.

 

Về văn hóa - xã hội và môi trường: Dân số trung bình năm 2024 khoảng 601.000 người. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 58,5%, trong đó đào tạo nghề đạt 42,5%. Giải quyết việc làm tăng thêm trong năm 6.500 lao động. Tỷ lệ hộ nghèo giảm ít nhất 3-4%/năm. Tỷ lệ học sinh tốt nghiệp THCS, THPT chuyển sang học nghề lên 35%. Phấn đấu 48% số trường mầm non, 76% số trường tiểu học, 49% số trường trung học cơ sở, 54% số trường trung học phổ thông đạt chuẩn quốc gia. Số giường bệnh trên một vạn dân (không tính trạm y tế xã) đạt 39,3 giường. Tỷ lệ dân số tham gia BHYT đạt 94,15%. Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng thể thấp còi còn dưới 28,8%. Tỷ lệ hộ gia đình ở đô thị sử dụng nước sạch đạt 92%. Tỷ lệ hộ gia đình ở khu vực nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh đạt 94%. Tỷ lệ hộ đồng bào DTTS có đất ở đạt 99,03%. Tỷ lệ hộ đồng bào DTTS có đất sản xuất đạt 98,97%. Tỷ lệ khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 100%; tỷ lệ cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường 85%.

 

Về quốc phòng, an ninh: Có 75% xã, phường, thị trấn mạnh về phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; 85% xã, phường, thị trấn, khu dân cư, cơ quan, trường học đạt tiêu chuẩn an toàn về an ninh trật tự; tỷ lệ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đạt 90% trở lên; tỷ lệ tội phạm về trật tự xã hội giảm 5%.

 

Các nhiệm vụ, giải pháp năm 2024

 

Triển khai thực hiện kịp thời, hiệu quả các quy hoạch sau khi được cấp thẩm quyền phê duyệt. Triển khai hực hiện có hiệu quả kết luận của Thủ tướng Chính phủ tại buổi làm việc với lãnh đạo tỉnh Kon Tum; trong đó, tập trung hoàn thành việc trình cấp có thẩm quyền xem xét thông qua Đề án phát triển tỉnh Kon Tum nhanh và bền vững theo tinh thần Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị.

 

Huy động, khai thác nguồn vốn đầu tư từ các thành phần kinh tế để đầu tư kết cấu hạ tầng, nhất là tạo đột phá thu hút nguồn vốn khu vực tư nhân để đầu tư phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội quan trọng. Có giải pháp mạnh, quyết liệt để đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư công ngay từ đầu năm 2024. Chủ động lồng ghép các nguồn lực thực hiện các chương trình MTQG bảo đảm hiệu quả sử dụng các nguồn vốn, góp phần làm tăng hiệu suất đầu tư.

 

Tổ chức thực hiện tốt nhiệm vụ thu ngân sách nhà nước; đẩy nhanh tiến độ đấu giá các trụ sở nhà đất để tạo nguồn thu đầu tư kết cấu hạ tầng.

 

Tiếp tục đẩy mạnh phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; mở rộng diện tích các loại cây trồng chủ lực như: Cây ăn quả, Mắc ca, Sâm Ngọc Linh và các cây dược liệu khác; khôi phục và phát triển cà phê xứ lạnh, vùng nguyên liệu mía. Đẩy mạnh xây dựng nông thôn mới và xây dựng thôn (làng) nông thôn mới ở vùng đồng bào DTTS. Thực hiện tốt công tác trồng mới, quản lý, bảo vệ rừng, phòng cháy, chữa cháy rừng. 

 

Đẩy mạnh phát triển chăn nuôi tập trung ứng dụng công nghệ cao, liên kết chuỗi; phát triển chăn nuôi đại gia súc (bò, dê) lấy thịt và sữa; đẩy nhanh tiến độ đầu tư dự án chăn nuôi bò sữa tại huyện Sa Thầy.

 

Tập trung phát triển một số ngành công nghiệp chế biến nông lâm sản, năng lượng tái tạo, khai thác khoáng sản. Tiếp tục tập trung đầu tư hoàn thiện cơ sở hạ tầng các khu, cụm công nghiệp để thu hút đầu tư các nhà máy chế biến: Gỗ, trái cây, Sâm Ngọc Linh và dược liệu khác; sản xuất thức ăn chăn nuôi công nghiệp...

 

Chú trọng phát triển, khai thác các ngành dịch vụ có lợi thế. Nâng cao tính chuyên nghiệp, chất lượng dịch vụ du lịch. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của tỉnh. Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, gắn với số hóa và sử dụng kết quả số hóa hồ sơ, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính.

 

Đẩy mạnh đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; có giải pháp mở rộng, phân luồng giáo dục nghề nghiệp, đáp ứng nhu cầu việc làm; đa dạng hóa các hoạt động giao dịch việc làm.

 

Rà soát, sắp xếp, củng cố mạng lưới trường lớp học. Tổ chức triển khai thực hiện tốt các Đề án về nâng cao chất lượng giáo dục đã được ban hành. Đẩy mạnh xã hội hoá, thu hút các nguồn lực đầu tư, phát triển giáo dục và đào tạo, nhất là các trường tư thục chất lượng cao. 

 

Tiếp tục đầu tư, nâng cấp, mở rộng cơ sở hạ tầng y tế, nhất là tuyến cơ sở. Nâng cao chất lượng khám chữa bệnh và chăm sóc sức khỏe Nhân dân; thực hiện tốt chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình.

 

Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, thực hiện tốt phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”. Tiếp tục phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng, các môn thể thao chuyên nghiệp, thành tích cao mà địa phương có thế mạnh.

 

Thực hiện hiệu quả các giải pháp bảo đảm thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều; thực hiện tốt chính sách về dân tộc, nhất là hỗ trợ định canh, định cư, đất ở, đất sản xuất, nhà ở đối với người đồng bào DTTS và hộ nghèo.

 

Đẩy mạnh quá trình chuyển đổi số trên địa bàn tỉnh. Tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với lĩnh vực báo chí, xuất bản, thông tin đối ngoại, thông tin cơ sở, phát thanh, truyền hình trên địa bàn tỉnh.

 

Triển khai thực hiện tốt các kế hoạch, phương án về đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự an toàn xã hội. Thường xuyên truy quét, trấn áp, xử lý các loại tội phạm và vi phạm pháp luật. Triển khai hiệu quả các bản ghi nhớ hợp tác giữa tỉnh Kon Tum với các tỉnh Nam Lào và Đông Bắc Campuchia trong giai đoạn mới.

 

Giải quyết kịp thời, đúng pháp luật các vụ việc khiếu nại, tố cáo. Nêu cao vai trò, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo.

 

* Cũng tại báo cáo này, UBND tỉnh tóm tắt nội dung các Tờ trình dự thảo Nghị quyết trọng tâm, có ảnh hưởng lớn đến đời sống kinh tế - xã hội của Nhân dân trên địa bàn tỉnh, như:

 

Tờ trình và dự thảo Nghị quyết về quyết toán ngân sách địa phương và phân bổ kết dư ngân sách tỉnh năm 2022; Tờ trình và dự thảo Nghị quyết về dự toán ngân sách địa phương và phương án phân bổ dự toán ngân sách tỉnh năm 2024; Tờ trình và dự thảo Nghị quyết về kế hoạch vay, trả nợ công năm 2024; Tờ trình và dự thảo Nghị quyết về kế hoạch đầu tư công năm 2024; Tờ trình và dự thảo Nghị quyết về giao kế hoạch thực hiện các Chương trình MTQG năm 2024 trên địa bàn tỉnh; Tờ trình và dự thảo Nghị quyết quy định về phân định các nhiệm vụ chi về bảo vệ môi trường trên địa bàn tỉnh; Tờ trình và dự thảo Nghị quyết Điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án Nâng cấp, bổ sung các trang thiết bị quan trắc môi trường; Tờ trình và dự thảo Nghị quyết Điều chỉnh chủ trương đầu tư dự án Đường giao thông từ cầu Drai đến đường Tuần tra biên giới tại khu vực Hồ Le (Đoạn Km7+316,41 Km12+482,07); Tờ trình và dự thảo Nghị quyết về phân bổ chi tiết kế hoạch nguồn ngân sách địa phương năm 2023 (đợt 3); Tờ trình và dự thảo Nghị quyết về điều chỉnh kế hoạch đầu tư công năm 2023 nguồn thu tiền sử dụng đất; Tờ trình và dự thảo Nghị quyết quy định mức chi bảo đảm cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, chuẩn tiếp cận pháp luật và hòa giải ở cơ sở trên địa bàn tỉnh; Tờ trình và dự thảo Nghị quyết quy định chức danh, mức phụ cấp, một số chế độ, chính sách đối với người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã, ở thôn, tổ dân phố, người trực tiếp tham gia công việc ở thôn, tổ dân phố trên địa bàn tỉnh; Tờ trình và dự thảo Nghị quyết giao số lượng cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách cấp xã trên địa bàn tỉnh Kon Tum năm 2023; Tờ trình và dự thảo Nghị quyết Quy định một số nội dung, mức hỗ trợ đối với người cai nghiện ma túy và người làm công tác cai nghiện ma túy trên địa bàn tỉnh; Tờ trình và dự thảo Nghị quyết phê duyệt Làng Le, xã Mô Rai, huyện Sa Thầy là làng có đông đồng bào dân tộc có khó khăn đặc thù được đầu tư, hỗ trợ thuộc Chương trình MTQG phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào DTTS và miền núi giai đoạn I: 2021-2025 trên địa bàn tỉnh; Tờ trình và dự thảo Nghị quyết thông qua Danh mục các dự án cần thu hồi đất năm 2024; Tờ trình và dự thảo Nghị quyết về giá sản phẩm, dịch vụ công ích thủy lợi thuộc phạm vi thẩm quyền quản lý của tỉnh Kon Tum năm 2024; Tờ trình và dự thảo Nghị quyết Quy định nội dung và mức hỗ trợ từ nguồn kinh phí sự nghiệp ngân sách trung ương để thực hiện Chương trình MTQG xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2021 - 2025 trên địa bàn tỉnh; Tờ trình và dự thảo Nghị quyết Quy định nội dung hỗ trợ dự án, kế hoạch liên kết theo chuỗi giá trị; mẫu hồ sơ, trình tự thủ tục, tiêu chí lựa chọn dự án, kế hoạch liên kết trong các ngành, nghề, lĩnh vực khác không thuộc lĩnh vực sản xuất nông nghiệp; nội dung hỗ trợ, trình tự, thủ tục, mẫu hồ sơ, tiêu chí lựa chọn dự án, phương án sản xuất cộng đồng trong thực hiện các Chương trình MTQG giai đoạn 2021 - 2025 trên địa bàn tỉnh; Tờ trình và dự thảo Nghị quyết về chuyển mục đích sử dụng đất trồng lúa, đất rừng phòng hộ vào mục đích khác để thực hiện các dự án trên địa bàn tỉnh...

 

UBND tỉnh kính trình HĐND tỉnh kỳ họp thứ 6 xem xét, quyết định./.

 

Cổng TTĐT tỉnh