Thứ 4, Ngày 08/02/2023 -

Hội nghị Đô thị toàn quốc năm 2022
Ngày đăng: 30/11/2022  15:33
Mặc định Cỡ chữ
Sáng 30/11, Chính phủ tổ chức trực tuyến Hội nghị Đô thị toàn quốc năm 2022 phổ biến Nghị quyết số 148/NQ-CP ngày 11/11/2022 của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 24/01/2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chủ trì Hội nghị.
Các đại biểu tham dự Hội nghị tại điểm cầu tỉnh Kon Tum

 

Dự Hội nghị tại điểm cầu tỉnh Kon Tum có đồng chí Nguyễn Ngọc Sâm, Phó Chủ tịch UBND tỉnh; đại diện lãnh đạo các sở, ngành liên quan của tỉnh.

 

Ngày 24/01/2022, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Để thực hiện Nghị quyết này, ngày 11/11/2022, Chính phủ đã ban hành Chương trình hành động tại Nghị quyết số 148/NQ-CP.

 

Theo đó, Chương trình hành động đề ra các mục tiêu: Tỷ lệ đô thị hoá toàn quốc đến năm 2025 đạt tối thiểu 45%, đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ lệ đất xây dựng đô thị trên tổng diện tích đất tự nhiên đạt khoảng 1,5 - 1,9% vào năm 2025, đến năm 2030 đạt khoảng 1,9 - 2,3%.

 

Số lượng đô thị toàn quốc đến năm 2025 khoảng 950 - 1.000 đô thị, đến năm 2030 khoảng 1.000 - 1.200 đô thị. Đến năm 2025, 100% các đô thị hiện có và đô thị mới có quy hoạch tổng thể, quy hoạch phân khu, chương trình cải tạo, chỉnh trang, tái thiết và phát triển đô thị; bảo đảm tối thiểu 100% đô thị loại III trở lên hoàn thiện tiêu chí phân loại đô thị về cơ sở hạ tầng đô thị, nhất là hạ tầng về y tế, giáo dục, đào tạo và công trình văn hóa cấp đô thị. Đến năm 2030, hình thành một số trung tâm đô thị cấp quốc gia, cấp vùng đạt các chỉ tiêu về y tế, giáo dục và đào tạo, văn hóa cấp đô thị tương đương mức bình quân của các đô thị thuộc nhóm 4 nước dẫn đầu ASEAN.

 

Tỷ lệ đất giao thông trên đất xây dựng đô thị đạt khoảng 11 - 16% vào năm 2025, 16 - 26% vào năm 2030. Diện tích cây xanh bình quân trên mỗi người dân đô thị đạt khoảng 6 - 8 m2 vào năm 2025, khoảng 8 - 10 m2 vào năm 2030. Diện tích sàn nhà ở bình quân đầu người tại khu vực đô thị đạt tối thiểu 28 m2 vào năm 2025, đến năm 2030 đạt tối thiểu 32 m2.

 

Đến năm 2025, hạ tầng mạng băng rộng cáp quang phủ trên 80% hộ gia đình tại đô thị, phổ cập dịch vụ mạng di động 4G, 5G và điện thoại thông minh; tỷ lệ dân số trưởng thành tại đô thị có tài khoản thanh toán điện tử đạt trên 80%. Đến năm 2030, phổ cập dịch vụ mạng Internet băng rộng cáp quang, phổ cập dịch vụ mạng di động 5G, tỷ lệ dân số trưởng thành tại đô thị có tài khoản thanh toán điện tử đạt 100%.

 

Kinh tế khu vực đô thị đóng góp vào GDP cả nước khoảng 75% vào năm 2025 và khoảng 85% vào năm 2030. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của các đô thị trực thuộc trung ương đạt bình quân 25 - 30% vào năm 2025, 35 - 40% vào năm 2030. Xây dựng được mạng lưới đô thị thông minh trung tâm cấp quốc gia và cấp vùng kết nối quốc tế và 3 - 5 đô thị có thương hiệu được công nhận tầm khu vực và quốc tế vào năm 2030.

 

Tầm nhìn đến năm 2045: Tỷ lệ đô thị hoá thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á. Hệ thống đô thị liên kết thành mạng lưới đồng bộ, thống nhất, cân đối giữa các vùng, miền, có khả năng chống chịu, thích ứng với biến đổi khí hậu, phòng, chống thiên tai, dịch bệnh, bảo vệ môi trường, kiến trúc tiêu biểu giàu bản sắc, xanh, hiện đại, thông minh. Xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Cơ cấu kinh tế khu vực đô thị phát triển theo hướng hiện đại với các ngành kinh tế xanh, kinh tế số chiếm tỉ trọng lớn...

 

Tại Hội nghị, các Bộ, ngành, địa phương; các chuyên gia quốc tế đã thảo luận Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW của Bộ Chính trị; Giải pháp tiếp tục xây dựng, hoàn thiện chính quyền đô thị; Phát triển hạ tầng giao thông đô thị đồng bộ, hiện đại thích ứng với biến đổi khí hậu; Xây dựng nông thôn mới gắn kết đồng bộ, chặt chẽ và phù hợp với định hướng đô thị hóa và phát triển đô thị bền vững đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Biến đổi khí hậu và các vấn đề đặt ra đối với công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị của các địa phương; Biến đổi khí hậu và các vấn đề đặt ra đối với công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị của các địa phương; Sáng kiến huy động nguồn lực cho phát triển đô thị; Kinh nghiệm triển khai chuyển đổi số phát triển đô thị thông minh tại các địa phương; Đánh giá công tác quy hoạch thành phố Hà Nội và định hướng quy hoạch đô thị đổi mới, sáng tạo; Đánh giá công tác quy hoạch thành phố Hà Nội và định hướng quy hoạch đô thị đổi mới, sáng tạo.

 

 

Kết luận Hội nghị, Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh về tầm quan trọng của Nghị quyết 06 và Chương trình hành động 148 của Chính phủ thực hiện Nghị quyết này đối với sự phát triển của đất nước.

 

Thủ tướng lưu ý, cùng với thời cơ và bối cảnh của thế giới và đất nước, phải đi cùng với xu thế của thế giới, kết hợp sức mạnh của dân tộc và thời đại, nguồn lực bên trong, bên ngoài để phát triển. Sau 35 năm đổi mới, nhất là 10 năm gần đây, cùng sự nghiệp đổi mới của Đảng, Nhà nước, đất nước đã đổi mới và đạt được nhiều kết quả quan trọng trong phát triển đô thị. Diện mạo đất nước thay đổi do phát triển đô thị.

 

Toàn quốc có khoảng 862 đô thị, được phân bố đồng đều trong cả nước, không gian đô thị được mở rộng, đầu tư theo hướng đồng bộ, hiệu quả hơn. Diện mạo, kiến trúc hiện đại, mang bản sắc riêng. Chất lượng sống của cư dân được nâng cao. Giao lưu với nhiều nền văn hoá nhưng việc thiết kế, xây dựng các đô thị vẫn giữ được bản sắc văn hoá, đặc trưng qua các thời đại, kế thừa và phát huy tối đa bản sắc dân tộc.

 

Yêu cầu khi quy hoạch, xây dựng, quản lý đô thị, “bài toán” quy hoạch phải tính toán thật kỹ; nâng cao chất lượng đô thị thực hiện thành công mục tiêu tái thiết, chỉnh trang, cải tạo đô thị; khắc phục các điểm nghẽn, tạo nguồn lực mới cho phát triển đô thị; tận dụng các nguồn lực của xã hội; thúc đẩy sự hình thành và phát triển bền vững đô thị; phát triển kinh tế xanh, kinh tế số; nâng cao sức chống chịu đối với rủi ro. Quy hoạch phát triển đô thị không gây áp lực lên đất đai, cơ sở hạ tầng hiện có; không phát triển phân tán, khó bền vững; đảm bảo vệ sinh môi trường, chống rác thải; cần có tư duy, cách tiếp cận mới.

 

Ngoài ra, phân cấp phân quyền, cá thể hoá trách nhiệm, phân bổ nguồn lực, nâng cao năng lực thực thi của các cấp, các ngành, địa phương; nâng cao công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc và tăng cường tổng kết, đánh giá để kịp thời khắc phục hạn chế trong quy hoạch, hạ tầng, cơ chế chính sách quản lý phát triển đô thị./.

 

Dương Nương