SỐ LƯỢT TRUY CẬP

1
3
2
6
1
7
2
6
Văn hóa xã hội Thứ Sáu, 03/08/2012, 09:05

Năm Đoàn kết Hữu nghị Việt Lào 2012: Trên cao nguyên Bôlôven

 

Bình yên Salavan 

Qua những câu chuyện kể của Bố tôi, cao nguyên Bôlôven hiện lên rõ nét trong trí tưởng tượng non nớt của đứa học trò cấp 1 là tôi. Không chỉ là những đêm bố và đồng đội hành quân, vượt qua bom mìn, đạn pháo; không chỉ là dày đặc đồn bốt địch, những vạt rừng khộp mênh mông mà bất cứ ai lọt vào đó cũng phải ngán ngại (vì ở rừng khộp rất khó tìm nước)… mà còn là những bản làng nằm nép dưới tán rừng với những người dân chân chất, hiền lành, sẵn sàng vét đến hạt gạo, quả bí, mớ rau cuối cùng trong nhà để nuôi bộ đội Việt Nam đánh giặc Mỹ.
 
Còn nữa, đó là những trận đánh ác liệt khắp vùng cao nguyên. Mà trong một trận đánh, bố đã sức ép đạn pháo ném xuống suối, nằm ngất nửa ngày; một viên bom bi nhỏ bằng bi xe đạp “chui” vào sườn và “theo” bố đến mấy chục năm sau. Sau trận ấy, bố đã dùng ống pháo sáng của Mỹ gò thành một cái ly uống nước với dòng chữ: kỷ niệm chiến trường Lào - Đông xuân 1969-1970. Cái ly ấy bố nâng niu cho đến ngày tặng con trai vào Tây Nguyên.
 
Nghe bố kể chuyện thích quá, tôi đã từng nói với bố sẽ đến đây khi nào “to” hơn. Ai hay, lời nói bâng quơ ấy đã thành sự thật. Ngày thứ 3 của chuyến công tác, chúng tôi đến Salavan - tỉnh Nam Lào nằm gọn trên cao nguyên Bôlôven. Suốt chặng đường từ Sê Kông đến Salavan, tôi thấy rưng rưng bởi ý nghĩ mình đang đi trên vùng đất in dấu chân của bố và đồng đội.
 
Ở độ cao trung bình 1.200 mét so với mực nước biển, Salavan thực sự là một tiểu vùng ôn đới với khí hậu thật dễ chịu, với rừng thông, những cánh đồng lúa nước và ruộng rau (bắp cải, su su, cải thảo, bí đỏ….. xanh mướt chạy dọc hai bên đường. Nhà dân cũng dày hơn; thỉnh thoảng lại bắt gặp một bản (đơn vị hành chính cơ sở của Lào, tương đương cấp xã bên Việt Nam) khá trù phú.
 
Do lịch làm việc của đoàn công tác kín mít nên thời gian ở Salavan chỉ đủ để cảm nhận thoáng qua nếp sống chậm rãi, giản dị, bình yên nơi đây. Thị xã Salavan nhỏ bé và thưa vắng người, phương tiện giao thông qua lại trật tự đến ngạc nhiên, dù không thấy bóng cảnh sát giao thông; người lái tự giác tuân thủ luật lệ, nhường đường và gần như tuyệt đối không có tiếng còi xe. Nghĩ mà ngán ngại sự ồn ào, chen lấn, phóng nhanh vượt ẩu của giao thông “bên mình”. 
 
Đ/c Trương Thị Ngọc Ánh cùng đoàn công tác tỉnh Kon Tum
với các đồng chí lãnh đạo tỉnh Salavan.
 
Sự đón tiếp đặc biệt chân thành và trọng thị của những người bạn, người đồng chí Salavan đã xóa đi sự mệt nhọc sau chặng đường dài và cảm giác lạ lẫm trong tôi khi lần đầu tiên đến đây… Theo ông Khămchanh Chămsamone - Uỷ viên Ban Thường vụ Tỉnh uỷ, Trưởng ban Tuyên giáo, Salavan nằm trên tuyến hành lang Đông - Tây và Bắc - Nam; có quốc lộ 13, quốc lộ 20 là trục giao thông chính của tỉnh nối liền giữa 2 vùng kinh tế trọng điểm là tỉnh Savannakhet ở phía Bắc và tỉnh Champasak phía Tây Nam; có đường 15B nối Salavan với biên giới Lào - Việt Nam (dài 174 km). Trên khu vực biên giới, Salavan có cửa khẩu quốc gia La Lay thông với Quảng Trị (Việt Nam), tuy nhiên hoạt động của cửa khẩu này chưa nhộn nhịp, sầm uất. Salavan vẫn còn nằm trong diện nghèo; GDP bình quân hàng năm khoảng 10-11/%; thu nhập bình quân đầu người năm 2011 đạt 856 USD…
 
Salavan có nguồn tài nguyên dồi dào (đá vôi, than đá, kim loại có giá trị cao…), là trọng điểm phát triển công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng. Do có thổ nhưỡng tốt, thích hợp cho phát triển nhiều loại cây trồng hàng hóa làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến nên Salavan có lợi thế trong phát triển các ngành cơ khí và chế biến nông lâm sản như: lắp ráp và sửa chữa máy móc, chế biến nông lâm sản phục vụ du lịch và chế biến các sản phẩm nông nghiệp đặc trưng của địa phương cho xuất khẩu (cà phê, cao su, cây ăn quả….). Bên cạnh đó, Salavan còn có điều kiện tốt và tiềm năng lớn cho phát triển thủy điện. Hiện nay nhà máy thủy điện Xeset 2 đã hoàn thành; nhà máy thủy điện Xepon 3 và Selanong đang xây dựng.
 
Salavan đã kết nghĩa với tỉnh Quảng Trị và ký kết hợp tác với nhiều tỉnh của Việt Nam. “Để thiết thực kỷ niệm 35 năm ngày ký Hiệp ước hữu nghị Việt Nam-Lào (18/7/1977 - 18/7/2012), 50 năm ngày 2 nước thiết lập quan hệ ngoại giao (5/9/1962), Salavan đã tổ chức tuyên truyền sâu rộng về mối quan hệ đoàn kết, gắn bó, hữu nghị bền vững giữa 2 nước; tổ chức các hoạt động giao lưu văn hoá, thể thao, mít tinh chào mừng… Salavan và các tỉnh của Việt Nam- trong đó có Kon Tum- đã cùng nhau củng cố mối quan hệ ngày càng chặt chẽ và hiệu quả; ký kết nhiều biên bản ghi nhớ, xúc tiến hợp tác cấp địa phương về nhiều lĩnh vực… Đây là những việc làm thiết thực, góp phần tô đậm thêm tình cảm truyền thống giữa 2 đất nước Việt - Lào anh em”- ông  Khămchanh Chamsamone khẳng định.
 
Nhộn nhịp Paksong
 
Ở các tỉnh Nam Lào, thực đơn quen thuộc là mấy món “truyền thống” gà và cá. Mấy bữa đầu ăn thấy ngon, nhưng miết rồi cũng hơi ngán. May mà bù lại là rau xanh không thiếu. Thôi thì đủ loại: sà lách, rau húng, rau cải, bắp sú (xắt nhỏ)…, điểm xuyết vài trái ớt chín đỏ; và không thể thiếu những trái cà, trái đậu cove xanh mướt, chấm mắm kho ngon ngọt không thể tả. Nếu hỏi rau được lấy từ đâu, thì câu trả lời thường gặp là: từ Paksong. Anh Hoàng - lái xe Văn phòng Tỉnh ủy gật gù: Paksong à? Rau sạch đấy nhé. Khi về nhớ ghé lại mua một ít. 
 
Paksong là một huyện của tỉnh Champasak, từ Salavan đi khoảng 30-40 km là tới. Có độ cao từ 1.200 - 1.250m so với mặt biển, là vùng đất đỏ bazan, khí hậu mát mẻ quanh năm nên được dân ta ví như Đà Lạt. Với đặc điểm thổ nhưỡng, khí hậu như vậy nên PakSong rất phù hợp với việc trồng cà phê, rau, quả các loại, và đã từ lâu, Paksong được gọi là “thủ phủ rau, quả” của cả vùng Nam Lào.
 
Những ngôi nhà kiến trúc truyền thống của người dân Lào
 
Khác với những bản làng còn nghèo ở Attapư hay ở Sê Kông, người dân ở Paksong đã xây dựng nhà ở kiên cố. Tuy vậy, nhà ở đây vẫn giữ nguyên kiểu nhà sàn truyền thống của người Lào, hoặc mái đơn, hoặc mái đôi. Hầu hết đều được làm theo cách dựng cột rồi xây tường bao xung quanh “tầng trệt”; tầng trên thì thưng ván gỗ. Gia đình nào khá giả thì xây tường gạch hết, nhưng vẫn giống các nhà khác là nhiều mái, nhiều cửa. Gần như xung quanh nhà nào cũng có vườn, được rào giậu để trồng rau, trồng bắp. Đang vào mùa thu hoạch rau nên vườn nào cũng xanh mát mắt.
 
Đặc biệt hơn, dọc 2 bên đường có khá nhiều điểm bán rau, quả. Hoặc làm lán bằng tre, lá; hoặc chở cả xe tải (loại nhỏ); hay đơn giản là đổ lên tấm ni lông. Việc rau quả “lên đường”, trở thành hàng hóa cũng chỉ có mấy năm gần đây, khi mà lượng người đổ về Paksong làm ăn theo các dự án tăng lên. Những cô gái Lào bán rau quả không còn mặc Sinh (váy) với hoa văn được thêu cầu kỳ, mà thay vào đó là quần jean, khẩu trang che mặt (chẳng khác gì bên mình), bán hàng chủ yếu bằng ngôn ngữ… cử chỉ; trên tay lăm lăm cái máy tính bỏ túi; cũng mặc cả, cò kè chẳng kém ai…
 
Gần đây, Paksong lại có thêm danh xưng “thủ phủ cà phê” của nước Lào - nơi có thể cho ra đời loại cà phê sạch nhất và ngon nhất thế giới. Nghe đâu từ đầu thế kỉ XX người Pháp đã trồng cà phê ở đây. Sau này, người dân vẫn trồng, nhưng do kỹ thuật còn thấp nên năng suất không cao, nhưng được thế giới ưa chuộng. Đặc biệt cà phê ở đây người dân trồng tốn ít chi phí vì không phải tưới nước vào mùa khô (ở đây khí hậu ẩm ướt mát mẻ, mùa khô chi kéo dài khoảng 2 đến 2,5 tháng nhưng vẫn có mưa rải rác).
 
Với chính sách khuyến khích của Nhà nước Lào và giá nhân công rẻ, giá thuê đất cũng dễ chịu nên vùng đất mới này là miền đất hứa cho nhiều doanh nghiệp Việt Nam. Chẳng thế mà ở đây rất nhộn nhịp các dự án trồng cao su, cà phê, như dự án trồng 1.000 ha của Công ty Hương Việt; dự án trồng 400 ha của Công ty Tín Nghĩa… Vì vậy, sẽ chẳng có gì ngạc nhiên khi dọc đường đi có thể tận mắt chứng kiến những vườn cà phê rộng ngút tầm mắt đang vươn cành xanh tốt, hứa hẹn một tương lai tươi sáng. 
 
Người Lào ở Paksong gần như ai cũng biết bà Lê Thị Lượng - Giám đốc Công ty Đào Hương, với thương hiệu Dao coffee mà ta có thể gặp trên những tấm biển quảng cáo dọc suốt những nẻo đường Nam Lào và bày bán ở hầu khắp các siêu thị, hàng tạp hóa ở Lào, có lẽ bởi bà đến Paksong thu mua cà phê khá sớm - từ những năm 2011-2002. Và 2 năm nay, Tập đoàn của bà đã và đang triển khai nhiều hoạt động đầu tư vào Paksong. Hàng ngàn hecta cà phê được đầu tư cùng với chính sách thu mua lấy quyền lợi của dân làm trọng, chính sách ươm giống cà phê rồi tạm ứng trước cho người trồng, xây dựng bệnh viện và trường học cho người dân... Thật vui vì ở Paksong, người Việt và người Lào luôn bên nhau, cùng dìu nhau lên no ấm.
 
Lê Hải

Số lượt người xem: 947 Bản inQuay lại

TIN MỚI HƠN

TIN ĐÃ ĐƯA

Xem tiếp
Xem theo ngày Xem theo ngày
  • Phóng sự 20 năm thành lập lại tỉnh Kon Tum
  • Kon Tum trên đường phát triển
Tìm kiếm