SỐ LƯỢT TRUY CẬP

2
0
2
0
6
6
3
2
Thời sự chính trị Thứ Sáu, 21/12/2012, 08:15

Những kết quả sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 04 của Tỉnh ủy "Về đẩy mạnh xây dựng các xã đặc biệt khó khăn"

Ngày 12/12/2012 vừa qua, Tỉnh ủy Kon Tum đã sơ kết 05 năm thực hiện Nghị quyết số 04-NQ/TU ngày 14/6/2007 của Tỉnh ủy khóa VIII "Về đẩy mạnh xây dựng các xã đặc biệt khó khăn" (gọi tắt là Nghị quyết 04); Chương trình số 37-CTr/TU, ngày 17/9/2007 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa VIII "Về việc tập trung xây dựng các xã trọng điểm đặc biệt khó khăn" (gọi tắt là Chương trình 37).

 

Làng mới ở Tu Mơ Rông - Ảnh: Văn Phương.

Qua 5 năm triển khai thực hiện dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, hướng dẫn, giúp đỡ của các cơ quan, đơn vị kết nghĩa xây dựng xã và sự nỗ lực cố gắng của các địa phương, tình hình các mặt ở xã đặc biệt khó khắn trên địa bàn tỉnh có những chuyển biến đáng kể trong mọi mặt.

Về lĩnh vực kinh tế - xã hội
 
Kinh tế - xã hội đã có bước phát triển, cơ cấu cây trồng, vật nuôi từng bước chuyển đổi theo hướng sản xuất hàng hóa, xuất hiện nhiều mô hình kinh tế hộ, kinh tế trang trại làm ăn có hiệu quả góp phần tăng thu nhập bình quân đầu người đạt trên 5,87 triệu đồng/ năm; kết cấu hạ tầng kinh tế-xã hội được quan tâm đầu tư, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển sản xuất, phục vụ đời sống nhân dân. Năm 2011 đã có 45/47 xã có đường ô tô đi được 2 mùa; 47 xã có điện lưới quốc gia với 94,5% số thôn và 93,52% số hộ được sử dụng điện; 98,37% hộ đồng bào dân tộc thiểu số đã định canh, định cư vững chắc.
 
Về giáo dục, y tế, văn hóa
 
Tại các xã đặc biệt khó khăn, tỷ lệ học sinh trong độ tuổi đi học đạt 96,39%; đã phổ cập tiểu học đúng độ tuổi 47/47 xã; đã phổ cập trung học cơ sở 44/47 xã. Trong khi đó về y tế có 34/47 số xã có bác sỹ, 100% số xã có y sỹ, 100% số thôn, làng có cộng tác viên y tế; 85,46% số hộ được dùng nước sinh hoạt hợp vệ sinh; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên 2,28%; tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm còn 19,5%, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc thiểu số tiếp tục được cải thiện. Đến nay đã có 184 thôn (làng) đạt No đủ - vững mạnh - an toàn ở 49 xã đặc biệt khó khăn(đạt 50% so với nghị quyết đề ra), 4 xã thoát khỏi diện đặc biệt khó khăn.
 
Về quốc phòng, an ninh và hệ thống chính trị
 
Quốc phòng, an ninh được giữ vững, không có tội phạm nghiêm trọng; hệ thống chính trị được quan tâm xây dựng và củng cố, hoạt động ngày càng hiệu quả hơn. Đến nay, 100% thôn (làng) có đảng viên và 19 thôn (làng) chưa có tổ chức đảng, có 33/47 xã có tổ chức đảng đạt trong sạch vững mạnh, 25 tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ, 2 tổ chức cơ sở đảng hoàn thành nhiệm vụ. Ngoài ra, tỷ lệ chuẩn hóa đội ngũ cán bộ các xã đạt 47,13%, trong đó chuẩn về văn hóa 47,02%, chuẩn về chuyên môn 53,83%, chuẩn về chính trị 40,43%. Niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, vào sự nghiệp đổi mới của đất nước tiếp tục được củng cố.
 
Mặc dù đã đạt được những kết quả đáng khích lệ , nhưng vẫn còn một số hạn chế, yếu kém trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết, như tốc độ phát triển kinh tế xã hội còn chậm, không đồng đều; phong tục, tập quán sản xuất cũ chưa được chuyển biến rõ nét, sản xuất tự cung, tự cấp vẫn còn phổ biến; sản xuất hàng hóa còn phân tán, tự phát; tỷ lệ hộ nghèo cao ( 58,97% ); đời sống thu nhập của nhân dân các xã còn thấp so với vùng thị trấn. Còn 37/49 xã có tỷ lệ nghèo trên 50%; số hộ đói giáp hạt vẫn còn xảy ra hàng năm; việc phối hợp triển khai thực hiện Nghị quyết 04 và chương trình 37 giữa các cấp, các ngành vẫn còn một số hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu đề ra; phần lớn các cơ quan, đơn vị nhận kết nghĩa xây dựng xã chỉ tập trung giúp xã trên lĩnh vực thuộc chuyên ngành của cơ quan, đơn vị mình và còn lúng túng trong việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ giúp xã triển khai xây dựng thôn, làng đạt no đủ, vững mạnh, an toàn; việc lồng ghép các chương trình, dự án đầu tư trên cùng một địa bàn còn hạn chế, chưa huy động tốt các nguồn lực xã hội vào việc đầu tư, phát triển các xã đặc biệt khó khăn; trách nhiệm quản lý, sử dụng của xã, thôn, làng và người dân đối với các công trình được Nhà nước đầu tư chưa cao, tư tưởng trông chờ ỷ lại vào Nhà nước, dựa dẫm vào các cơ quan kết nghĩa ở một số nơi chậm được khắc phục; chưa xây dựng và nhân rộng các mô hình phát triển kinh tế xã hội mang tính đặc thù, có hiệu quả bền vững; năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức Đảng chưa cao; hiệu quả điều hành của chính quyền ở một số nơi chưa đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, có nơi chưa đủ sức giải quyết những vấn đề phát sinh tại cơ sở.
 
Những yếu kém, khuyết điểm trên do nhiều nguyên nhân, nhưng chủ yếu là do một số cấp ủy, chính quyền, đảng viên chưa nhận thức đầy đủ, sâu sắc về nội dung của Nghị quyết 04 và chương trình 37; một số cấp ủy, người đứng đầu cơ quan, đơn vị kết nghĩa xây dựng chưa phát huy đầy đủ trách nhiệm, chưa nhận thức đúng đắn về vai trò, nhiệm vụ trong quá trình triển khai thực hiện còn khoán trắng cho tổ công tác 04 của cơ quan, đơn vị trong việc giúp xây dựng xã; một số huyện chưa chủ động chỉ đạo các cấp ủy xã, các cơ quan, đơn vị huyện phối hợp chặt chẽ với các cơ quan, đơn vị kết nghĩa của tỉnh trong quá trình triển khai thực hiện nhiệm vụ giúp xã.
 
Để phát huy những kết quả đạt được, khắc phục những yếu kém, khuyết điểm, tiếp tục thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết 04-NQ/TU khóa VIII đòi hỏi các cấp, các ngành triển khai thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ sau:
 
Một là, tiếp tục tổ chức nghiên cứu, quán triệt sâu sắc các nội dung của Nghị quyết 04 nhằm nâng cao nhận thức, trách nhiệm cho các cấp, các ngành, cán bộ, Đảng viên và nhân dân; tiếp tục huy động các nguồn lực đầu tư, giúp đỡ hưỡng dẫn vận động nhân dân xây dựng các xã, thôn, làng đặc biệt khó khăn từng bước đạt no đủ, vững mạnh, an toàn; kết hợp với tổ chức thực hiện Nghị quyết TW 4 của Đảng, cuộc vận động " Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh " trong việc hướng về cơ sở xây dựng các xã đặc biệt khó khăn.
 
Hai là, cấp ủy chính quyền các xã đặc biệt khó khăn tập trung phát huy nội lực, chủ động xây dựng xã vững mạnh về mọi mặt; không trông chờ ỷ lại vào sự hỗ trợ của các ngành, các cấp, đẩy mạnh việc triển khai thực hiện chỉ thị số 10-CT/TU ngày 4/9/2008 và kết luận 322-KL/TU ngày 3/11/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy " Về đẩy mạnh công tác phân công đảng viên phụ trách hộ, nhóm hộ " tăng cường phân công cán bộ, đảng viên kiên trì " Bám làng-sát hộ " để nắm chắc tình hình, chủ động tham mưu cấp ủy, chính quyền giải quyết kịp thời những vấn đề nảy sinh tại cơ sở.
 
Ba là, các huyện chủ động phối hợp chặt chẽ với các đơn vị kết nghĩa xây dựng thực hiện có hiệu quả các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp Nghị quyết 04 đã đề ra; tiếp tục củng cố; kiện toàn Ban chỉ đạo 04 huyện, tổ 04 phụ trách xã; bố trí cán bộ chuyên trách có năng lực, đủ sức tham mưu cho Thường trực, Ban Thường vụ huyện ủy chỉ đạo quyết liệt việc thực hiện Nghị quyết 04 và chương trình 37 tại các xã đặc biệt khó khăn và xã trọng điểm đặc biệt khó khăn; chỉ đạo UBND huyện thực hiện nghiêm túc kết luận 321-KL/TU ngày 3/11/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và hàng năm thông báo kíp thời các chương trình, dự án đầu tư tại các xã đặc biệt khó khăn để cơ quan, đơn vị kết nghĩa của Tỉnh, huyện có kế hoạch giúp xã.
 
Bốn là, các cơ quan, đơn vị kết nghĩa xây dựng xã tiếp tục củng cố.kiện toàn tổ, đội công tác giúp xã; căn cứ chỉ tiêu, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của huyện giao cho xã, thông báo kế hoạch được duyệt hàng năm của Ban chỉ đạo 04 Tỉnh ủy giao cho đơn vị để giúp xã thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp Nghị quyết 04 đã đề ra; tập trung giúp xã xây dựng thôn, làng đạt no đủ, vững mạnh, an toàn.
 
Năm là, Ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết 04 của Tỉnh ủy bám sát Nghị quyết 04 của Tỉnh ủy chương trình 37 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy và chương trình công tác hóa 14 (chương trình số 03-CTr/TU ngày 9/12/2010) để tham mưu Tỉnh ủy Ban Thường vụ Tỉnh ủy đề ra các chủ trương nhiệm vụ giải pháp lãnh đạo thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu về đẩy mạnh xây dựng các xã đặc biệt khó khăn và các xã trọng điểm đặc biệt khó khăn trên địa bàn Tỉnh chỉ đạo trọng tâm quyết liệt việc tập trung xóa các xã trọng điểm đặc biệt khó khăn và xã đặc biệt khó khăn xây dựng thôn, làng đạt no đủ-vững mạnh-an toàn; đồng thời có kế hoạch hướng dẫn các địa phương đơn vị xác định mục tiêu tiêu chí phân kỳ thực hiện việc xóa các xã đặc biệt khó khăn và các xã trọng điểm đặc biệt khó khắn xây dựng thôn, làng đạt no đủ- vững mạnh- an toàn; tiếp tục thực hiện chỉ thị 10 CT/TU ngày 4/9/2008 của Ban Thương vụ Tỉnh ủy " Về đẩy mạnh công tác phân công Đảng viên phụ trách hộ, nhóm hộ " với chị đạo tập trung xây dựng mô hình kinh tế hộ nhằm thực hiện chỉ tiêu giảm nhanh, bền vững tỷ lệ hộ nghèo tại các xã này thường xuyên chỉ đạo đôn đốc kiểm tra thực hiện Nghị quyết 04 kết luận 321- KL/TU ngày 3/11/2011 của Ban thường vụ Tỉnh ủy về điều chỉnh, bổ sung đối tượng đầu tư, hỗ trợ tại chương trình 37-CTr/TU của Ban Thường vụ tỉnh ủy khóa VIII về tập trung xây dựng các xã trọng điểm đặc biệt khó khăn ở các cấp, các ngành và công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị kết nghĩa xây dựng xã với cấp huyện, cấp xã trong quá trình triển khai, tổ chức thực hiện theo quy chế 07 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; định kỳ hàng năm tham mưu cấp có thẩm quyền kịp thời biểu dương, khen thưởng các tổ chức, cá nhân có thành tích xuất sắc, đồng thời phê bình, xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân thiếu tinh thần trách nhiệm trong việc tổ chức, triển khai thực hiện Nghị quyết 04 và chương trình 37 trên địa bàn tỉnh.
 
Sáu là, BCSĐ UBND tỉnh, lãnh đạo UBND tỉnh chỉ đạo các cấp, các ngành thực hiện nghiêm túc kết luận 321- KL/TU ngày 3/11/2011 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về sửa đổi , bổ sung chương trình 37- CTr/TU áp dụng cho giai đoạn 2012-2015 đối với các xã trọng điểm đặc biệt khó khăn; thực hiện lồng ghép các chương trình, dự án bảo đảm phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của từng xã.
 
Bảy là, Đảng đoàn Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh lãnh đạo thực hiện Kết luật 62-KL/TW, ngày 8/12/2009 của Bộ Chính trị "về tiếp tục đổi mới nội dung phương thức hoạt động của Mặt trận TQVN và các đoàn thể chính trị xã hội".
 
Tám là, Ban Tổ chức Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ, Ban chỉ đạo 04 Tỉnh ủy và các địa phương, đơn vị liên quan tăng cường hướng dẫn, kiểm tra việc triển khai thực hiện có hiệu quả đề án " Xóa" thôn, làng chưa có đảng viên tiến tới xóa thôn, làng chưa có tổ chức Đảng (ban hành kèm theo QĐ số 138-QĐ/TU ngày 12/4/2006 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy); kết luận 329-KL/TU ngày 2/2/2012 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về phát triển đảng viên, tổ chức đảng ở những nơi ít hoặc chưa có đảng viên, tổ chức đảng; Đề án nâng cao chất lượng đôi ngũ cán bộ chủ chốt xã, phường, thị trấn (ban hành kem theo QĐ số 381-QĐ/TU ngày 9/2/2007 của Ban Thương vụ Tỉnh ủy); rà soát, điều chỉnh, bổ sung chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của Ban chỉ đạo 04 Tỉnh ủy phù hợp với tình hình thực tế hiện nay; nghiên cứu, bổ sung, sửa đổi Quy chế 07-QC/TU, ngày 01/12/2008 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy “về phối hợp thực hiện Nghị quyết 04 của Tỉnh ủy khóa XIII về đẩy mạnh xây dựng các xã đặc biệt khó khăn”.
 
Dự kiến tới năm 2015, trên địa bàn tỉnh sẽ có 20 xã thoát khỏi trọng điểm đặc biệt khó khăn, 36 xã thoát khỏi đặc biệt khó khăn.
 
Minh Nguyệt (tổng hợp)

Số lượt người xem: 1711 Bản inQuay lại
Xem theo ngày Xem theo ngày
  • Phóng sự 20 năm thành lập lại tỉnh Kon Tum
  • Kon Tum trên đường phát triển
Tìm kiếm