Để chuẩn bị cho các lễ thức được diễn ra suôn sẻ trong Lễ Tạ ơn (Mơ nê Yàng), trước đó một vài tháng, người lớn nhất trong gia đình (ông, bà, cố, can...) tập trung tất cả con, cháu trong gia đình, dòng tộc lại để bàn, thống nhất thời gian, thành phần, nghi thức tổ chức Lễ tạ ơn của gia đình đối với thần linh và bày tỏ vị thế của mình trong làng.
Các thành phần trong gia đình cắt cử nhau đảm nhiệm các công việc chuẩn bị vật chất cho ngày hội như: Đàn bà thì lo ủ rượu cần, đi lấy củi, hái rau rừng, chặt ống nứa đựng rượu, dọn dẹp nhà cửa, giã gạo nếp, gạo tẻ để đủ dùng trong mấy ngày lễ; đàn ông thì đi rừng săn bắt các loại thú rừng như: chim, chuột, cá… và đi đến các làng lân cận mời anh em, bạn bè thân thuộc; các thanh nữ thì nhanh tay hơn bên khung dệt để sớm hoàn thành bộ váy áo mới diện trong dịp lễ này; người già cũng lục lại bộ váy khố truyền thống cho ngày lễ. Người chủ trì cắt cử và chỉ huy cánh đàn ông, thanh niên vào rừng chặt lồ ô, nứa để làm cây Nêu, làm rạp và trang trí làm cột buộc rượu trong nhà (rạp ngoài sân), quét dọn đường làng ngõ xóm. Mỗi người mỗi tâm trạng chuẩn bị cho ngày hội, nên khiến cho không khí trong làng càng thêm náo nức, rộn ràng. Khi tất cả mọi thành phân trong gia đình, dòng tộc đã chuẩn bị đầy đủ tinh thần và vật chất, thì cũng là lúc lễ Tạ ơn bắt đầu.
 |
|
Ảnh minh họa: Nguyễn Đang.
|
Ngày đầu tiên của lễ hội: Buổi sáng, tất cả mọi người tập trung đông đủ tại nhà rông. Các con vật được hiến sinh: trâu, heo, dê, gà... đã được chuẩn bị; người chủ trì phân công từng người đảm nhận một vài công việc, cánh đàn ông, thanh niên che rạp, làm cây nêu, cột buộc ghè rược cần, đàn bà chuẩn bị tập kết gạo, nếp, củi, nước, rau rừng...; đến chiều tối mọi người đã hoàn tất nhiệm vụ của mình, trang phục truyền thống tươm tất, thì bắt đầu cho việc lễ. Con trâu đã được cột vào cây nêu trước đó, đồng thời với lễ cúng thần linh là mọi người diễn hội, cồng chiêng nổi lên, múa xoang bắt đầu đi vòng quanh cây nêu và bắt con trâu cùng đi vòng quanh trong đêm.
Theo phong tục của Người Xơ Đăng, nhóm TơĐrá Lễ Tạ ơn thần linh (Mơ nê Yàng) mừng cho sức khoẻ và con cháu thành đạt không đươc đánh trống, già làng cho phép có thể thích dùng vật gì đánh phụ hoạ theo cồng chiêng mà không được đánh trống, múa xoang, cồng chiêng và đuổi trâu đi suốt trong đêm, không được dừng bước nào, cho đến khoảng 2 giờ sáng bếp được nhóm lên, chuẩn bị cho việc giết heo, dê, gà… và khi đó con trâu cũng đã không thể lê nổi hai cặp chân của mình, đến lúc đó là một người dùng dao đâm thẳng vào cổ và khi nó ngã xuống, người ta lấy đầu con trâu làm lễ vật dâng cúng thần linh. Chủ nhà bưng một ghè rượu ngon buộc vào cột chính giữa nhà để cúng thần, sau đó đem những phần thịt ngon nhất của con vật hiến tế như: thịt đùi, gan, tim, thận, tiết…mỗi thứ một ít và được chia làm 2 phần bỏ vào cái máng được chẻ đôi từ ống lồ ô.
Ngoài ra, các món thịt rừng cũng được đặt vào cái máng lồ ô riêng (trước đây lễ vật dâng cúng Yàng thường là thịt các loài vật được đánh bắt từ thiên nhiên, ngày nay do môi trường khai thác từ thiên nhiên khó khăn, nên trong các dịp lễ này họ sử dụng thêm các loài động vật từ chăn nuôi của gia đình hoặc mua về), tất cả các món này được bày cạnh ghè rượu cúng. Sau khi bày biện xong lễ vật cúng tế, mọi thành viên trong gia đình đều ngồi quay mặt về hướng đông nơi đặt lễ vật cúng thần linh. Chủ nhà dùng ngón trỏ của bàn tay phải chấm rượu cúng trong ghè rượu rồi chấm lên trán của mình, sau đó đặt ngón tay lên miệng ghè rượu rồi đọc lời khấn, đại ý: “Ơi Yàng… hôm nay gia đình chúng tôi, bà con dòng tộc và dân làng tổ chức lễ để Tạ ơn Yàng và thần lúa, thần nước đã cho sức khoẻ, con cháu thành đạt, mùa màng bội thu, chăn nuôi có lợi, xin mời các Thần đến chung vui, ăn cơm, ăn thịt, uống rượu cùng gia đình chúng tôi, rồi phù hộ cho gia đình chúng tôi, bà con dòng tộc và dân làng luôn mạnh khoẻ, hạnh phúc, con cháu khôn ngoan, thành đạt, gặp nhiều may mắn, mùa màng tốt tươi, không bị chim, chuột, sâu bọ phá hoại, con vật nuôi mau lớn và mọi gia đình trong làng Tam Nang ngày một no đủ, giàu sang, sung sướng”.
Ngày thứ hai: Đến gần trưa, Già làng là người đầu tiên đánh một hồi cồng, tiếp đó là con, cháu đánh chiêng nối tiếp báo hiệu cho tất cả anh em trong dòng tộc và dân làng mang lễ vật đến bày tại dãy cột buộc rượu chính giữa sân (đã được che rạp) khoảng trên 12 cặp ghè rượu, Già làng là người buộc ghè rượu cúng đầu tiên của gia đình mình, tiếp đến lần lượt đến các gia đình khác thứ tự theo cấp bậc trong dòng tộc và đến người làng. Khi các vật dâng cúng Yàng đã được gia đình tập kết đầy đủ, Già làng bắt đầu làm lễ cúng: "Trong cuộc sống xin các thần từ nay đừng làm khó dễ cho chúng tôi, xin hãy xoá bỏ mọi điều cấm kị trước đây. Từ nay về sau, xin các thần cho các gia đình được tự do đi lại thăm nhau, đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau. Xin các thần hãy phù hộ cho dân làng chúng tôi được sống yêu vui, mạnh khoẻ, mùa màng tốt tươi và bội thu...”.
Sau khi khấn xong, Già làng dùng bàn tay phải bốc vài hạt cơm bỏ lên đỉnh đầu của mình và uống cang rượu cúng đầu tiên. Lúc này dàn Chinh goong (cồng, chiêng), nổi lên dồn dập, các điệu múa xoang nhịp nhàng của ngày hội chính. Tiếp đến, các gia đình lần lượt làm động tác tương tự như già làng và uống rượu ghè của mình, sau đó, họ mời nhau cùng thưởng thức hương vị ngọt ngào của rượu cần, nếm món ăn do mình làm ra. Trong dịp này, nếu có khách lạ đến làng thì họ cũng được tiếp đón rất chu đáo. Cuộc vui cứ thế kéo dài, họ ăn uống, nói chuyện và múa hát thâu đêm bên ánh lửa bập bùng.
Ngày thứ ba: Buổi sáng chủ nhà bưng một ghè rượu mới, giết thêm gà, dê hoặc heo...nấu cơm mời khách và con cháu ở xa về nhà mình cùng ăn uống nói chuyện, tiếp tục nhảy múa xoang, cồng chiêng vẫn nhịp đều đều. Đến trưa hay muộn lắm là xế chiều ngày hôm đó, những người khách, người làng, bạn bè đến từ các nơi đều chia tay gia chủ để trở về, họ không quên cảm ơn sự đón tiếp chân thành nồng hậu của mọi người trong gia đình và hẹn gặp nhau khi có dịp. Trước khi tiễn khách, họ hàng và bạn bè về, gia chủ tặng mỗi người một nắm xôi và ít thức ăn được gói trong lá chuối để họ ăn dọc đường hoặc mang về làm quà cho gia đình. Cuối lễ là mọi người trong gia đình dòng tộc tập trung tại Cây Nêu, chủ nhà khấn và làm cho Cây Nêu đổ xuống, theo quan niệm của người Xơ Đăng (nhóm TơĐrá) nếu Cây Nêu ngã về hướng tây (phía mặt trời lặn) thì gia đình, dòng tộc gặp rất nhiều may mắn, nhiều điều tốt lành sẽ đến với gia đình, dòng họ và buôn làng...
Lễ tạ ơn (Mơ nê Yàng) đến đây cũng là kết thúc, trong những ngày diễn ra lễ hội, nếu chúng ta có dịp đến dự lễ hội Tạ ơn của dân tộc Xơ Đăng, (nhóm TơĐrá) là một cơ hội lớn để thưởng thức, sẽ cảm nhận được nét đẹp văn hoá dân gian độc đáo với không khí khí rạo rực của âm thanh: cồng chiêng, tiếng cười, nói râm ran của lễ hội và vũ điệu múa xoang mang đậm chất nghệ thuật của người Tây Nguyên vừa độc đáo vừa sâu lắng ân tình, khó quên. Lễ tạ ơn cần được phát huy, giữ gìn, góp phần làm phu phú thêm kho tàng văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.
Lễ tạ ơn (Yàng) của người Tơ rá tuy tổ chức không lớn, nhưng lại rất quan trọng. Ngoài ý nghĩa cảm ơn thần linh, đất, trời đã phù hộ cho gia đình, dòng tộc và dân làng sức khỏe, may mắn, con cháu thành đạt..., nó còn có ý nghĩa khác là giáo dục con cháu phải biết cảm ơn mọi người trong cộng đồng.
Lễ hội tạ ơn của tộc người Xơ Đăng (nhóm TơĐrá) là một trong những lễ thức văn hoá độc đáo của người Tây Nguyên, tuy đơn giản nhưng thể hiện nhân thế giới quan, tín ngưỡng của dân tộc mình, cũng như lòng biết ơn đến các Yàng đã đem đến cho họ một cuộc sống vui vẻ, no đủ, thành đạt. Hơn thế nữa, trong lễ hội này cộng đồng làng còn thể hiện tình đoàn kết, gắn bó trong gia đình, anh em dòng tộc, cộng đồng; đồng thời cũng là dịp đoàn tụ con cháu trong gia đình đi làm ăn xa trở về. Bên cạnh đó, cũng là dịp để các loại hình văn nghệ dân gian được phô diễn, khả năng sáng tạo của con người được phát huy, là môi trường rất thuận lợi cho việc bảo tồn, phát huy những giá trị văn hoá truyền thống tốt đẹp của tộc người Xơ Đăng nói chung và nhóm TơĐrá nói riêng. Chính vì vậy, Lễ hội tạ ơn (Mơ nê Yàng) của người Xơ Đăng (nhóm TơĐrá) cần phải được giữ gìn, bảo tồn và phát huy.
Trịnh Thị Hương